Với khóa thông minh, mẫu khoá do Vconnex phát triển có 2 phiên bản dành cho cửa gỗ và cửa nhôm kính. Người dùng có thể sử dụng nhiều phương thức mở khóa khác nhau, từ vân tay, thẻ từ, mã số ảo chống nhìn trộm, mật khẩu dùng 1 lần, chìa cơ… Đặc biệt, mẫu khóa thông minh Face 3D còn có khả năng mở khóa bằng nhận diện gương mặt.
Vconnex cũng vừa giới thiệu 2 dòng sản phẩm khác là hệ cảm biến an ninh, mô phỏng chính xác môi trường thực và hệ module chuyển đổi thiết bị an ninh điện trở nên thông minh hơn.
Hệ cảm biến thông minh sẽ bao gồm các cảm biến cửa và cảm biến chuyển động. Chúng hoạt động như các xúc giác tiếp nhận thông tin để đầu não an ninh trong gia đình phân tích và xử lý. Tình trạng đóng/mở cửa và các chuyển động bất thường đều được mô phỏng chính xác gần như ngay lập tức.
Với hệ module chuyển đổi, các loại động cơ điện cho cổng tự động, cửa cuốn đang sử dụng trong nhà đều có thể trở nên thông minh hơn thông qua các module IoT do các kỹ sư Việt Nam chế tạo.
Theo đại diện nhóm phát triển, để giải pháp an ninh thông minh trở nên hoàn chỉnh, 4 nhóm thiết bị trên cần kết nối với các thiết bị nhà thông minh khác. Ngôi nhà nhờ vậy có thể tự động kích hoạt kịch bản an ninh để tự vệ ngay cả khi chủ nhà chưa kịp nhận biết.
"Ví dụ, chủ nhà có thể cài đặt kịch bản: Nếu 2h sáng phát hiện chuyển động con người trong khu vực bị giám sát, ngay lập tức camera phát loa, còi cảnh báo kêu to, đèn bừng sáng, cảnh báo sẽ được gửi về điện thoại của chủ nhà", đại diện Vconnex nói.
Được phê duyệt từ tháng 1/2021, chương trình IPv6 For Gov hướng tới tăng cường tỷ lệ sử dụng IPv6 trong cơ quan nhà nước tương đương với tỷ lệ sử dụng IPv6 chung trên mạng Internet Việt Nam, phù hợp với xu thế chuyển đổi công nghệ IPv6 của thế giới.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Phạm Đức Long nhận định, việc triển khai kế hoạch chuyển đổi mạng Internet Việt Nam sang hoạt động với IPv6 nói chung và chương trình IPv6 For Gor nói riêng, đến nay đã có được những bước tiến quan trọng. Việt Nam đã khẳng định vị thế trong bảng xếp hạng thế giới về chuyển đổi IPv4 sang IPv6. “Đây là kết quả sự nỗ lực, tích cực của VNNIC và các bộ, ngành, địa phương cùng doanh nghiệp”, Thứ trưởng đánh giá.
Theo bà Trần Thị Thu Hiền, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), Bộ TT&TT, tính đến nay, tỷ lệ sử dụng IPv6 trên Internet Việt Nam đạt khoảng 53%. Việt Nam đứng thứ 2 khu vực ASEAN và thứ 10 toàn cầu về chuyển đổi sang IPv6. Dịch vụ IPv6 cũng được cung cấp rộng rãi tới người sử dụng truy cập Internet với IPv6 qua FTTH, mobile…
Đặc biệt, hoạt động chuyển đổi IPv6 trong khối cơ quan nhà nước đã thay đổi rất tích cực trong 2 năm qua. Các chỉ tiêu đề ra cho giai đoạn 1 chương trình IPv6 For Gov đều đã được hoàn thành vượt mức.
Cụ thể, 94% bộ, ngành, địa phương đã ban hành kế hoạch chuyển đổi IPv6, vượt 88% so với mục tiêu; 78% bộ, tỉnh đã chuyển đổi thành công IPv6 cho cổng thông tin điện tử, dịch vụ công, vượt 55% mục tiêu. Cùng với đó, VNNIC và các đơn vị tổ chức đào tạo 28 khóa cho 1.318 cán bộ IPv6, tăng gấp 2,6 lần so với mục tiêu tới năm 2025. Ngoài ra, nhiều hoạt động về định hướng chính sách, tư vấn, hướng dẫn chuyển đổi IPv4 sang IPv6 cũng đã được triển khai.
Chia sẻ kinh nghiệm của một đơn vị đã hoàn thành sớm nhiều nội dung công việc trong kế hoạch chuyển đổi sang IPv6, ông Chu Quang Trung, Phó Giám đốc Trung tâm CNTT - Bộ Giao thông vận tải cho biết, ngoài quyết tâm của đơn vị triển khai, còn cần có sự phối hợp chặt chẽ với VNNIC và các nhà mạng.
Là một địa phương đã triển khai chuyển đổi tốt trong giai đoạn 1, đại diện Sở TT&TT Quảng Nam cho hay, tỉnh đã chọn phương án triển khai để không làm thay đổi kiến trúc hệ thống và ít gây gián đoạn dịch vụ, có thể chia làm nhiều giai đoạn nhằm giúp cán bộ chuyên trách có thời gian làm quen, làm chủ công nghệ.
Vấn đề sống còn với tiến trình chuyển đổi số
Các đại biểu dự hội nghị đều thống nhất rằng, những kết quả đạt được trong giai đoạn 1 là tiền đề quan trọng để bước sang giai đoạn 2023 - 2025 của chương trình IPv6 For Gov. Tuy nhiên, theo Phó Giám đốc VNNIC Nguyễn Trường Giang, việc triển khai chuyển đổi IPv6 hiện còn tồn tại một số vấn đề lớn như tỷ lệ chung tăng trưởng chậm, có những thời điểm bị giảm; tỷ lệ thiết bị đầu cuối hỗ trợ IPv6 còn thấp, trong đó còn 45 – 50% điện thoại di động chưa hỗ trợ công nghệ này. Cùng với đó, hạ tầng CNTT cơ quan nhà nước chậm chuyển đổi IPv6, nội dung IPv6 trong nước còn thấp; các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chưa tích cực, phần lớn là chưa triển khai.
Ở góc độ doanh nghiệp hạ tầng, đại diện Viettel, VNPT, MobiFone, FPT đều lưu ý cần đặc biệt chú trọng đến chuyển đổi IPv6 cho thiết bị đầu cuối và các dịch vụ nội dung, bởi hiện nay tỷ lệ thiết bị đầu cuối và các trang nội dung hỗ trợ IPv6 còn thấp.
Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2, IPv6 For Gov sẽ tập trung và hoàn thành chuyển đổi IPv6 cho Trung tâm dữ liệu, mạng WAN, các phần mềm, ứng dụng; triển khai thí điểm hoạt động thuần IPv6 (IPv6 only) cho một số khu vực, dịch vụ. Mục tiêu hướng tới 100% Bộ, ngành, địa phương chuyển đổi IPv6 thành công cho hạ tầng mạng, dịch vụ CNTT và sẵn sàng triển khai IPv6 only.
Để đạt được mục tiêu trên, Thứ trưởng Phạm Đức Long đã chỉ đạo VNPT, Viettel đồng bộ, triệt để kích hoạt dịch vụ IPv6, hỗ trợ các cơ quan nhà nước chuyển đổi thành công IPv6 cho cổng thông tin, cổng dịch vụ công và mạng truy cập. Các doanh nghiệp chủ động cung cấp các gói dịch vụ vụ tư vấn, chuyển đổi IPv6 cho hạ tầng mạng, dịch vụ CNTT… cho cơ quan nhà nước.
Riêng với năm 2023, Bộ TT&TT đặt mục tiêu cao cho công tác chuyển đổi IPv6, đưa tỷ lệ sử dụng IPv6 đạt từ 60-70%. Bên cạnh sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương theo chương trình IPv6 For Gov, để đạt được các mục tiêu chuyển đổi IPv6 quốc gia, các doanh nghiệp công nghệ cần đẩy mạnh, quyết liệt triển khai, đặc biệt là nhóm các doanh nghiệp chủ đạo gồm VNPT, Viettel, MobiFone, FPT. Đây là các doanh nghiệp đang cung cấp 96% dịch vụ cho người dùng Internet Việt Nam. Song song đó, là các doanh nghiệp ISP, Mobile, IDC, Cloud, nội dung số.
Nhấn mạnh đây là vấn đề sống còn để thực hiện chuyển đổi số quốc gia, Thứ trưởng Phạm Đức Long yêu cầu các bộ, ngành, địa phương quyết liệt hơn nữa trong việc chuyển đổi sang sử dụng IPv6. Các doanh nghiệp đi đầu có trách nhiệm hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương chuyển đổi hạ tầng, dịch vụ, có lộ trình cụ thể để chuyển đổi cho các thuê bao đầu cuối còn lại chưa hỗ trợ IPv6.
Với VNNIC, Thứ trưởng yêu cầu thời gian tới tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo, hỗ trợ và giám sát quá trình chuyển đổi sang IPv6. Trong đó, cần xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện, tham mưu tư vấn lãnh đạo Bộ các vấn đề chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi, hoàn thành mục tiêu chương trình IP 4G quốc gia cũng như duy trì và tăng thứ hạng chuyển đổi IPv6 của Việt Nam.
Mục tiêu giai đoạn 2023 – 2025 là chuyển đổi toàn bộ Internet Việt Nam sang IPv6, 100% thuê bao Internet Việt Nam hoạt động với IPv6; 100% doanh nghiệp IDC, Cloud, Hosting, nội dung số …cung cấp dịch vụ trên nền IPv6; Triển khai IPv6 only, IPv6 cho 5G, Cloud, IoT và nghiên cứu triển khai IPv6+. |
Với hơn 50 triệu người dùng truy cập Internet với IPv6 qua FTTH, 3G và 4G, Việt Nam hiện đứng thứ 2 khu vực ASEAN và thứ 10 toàn cầu về tỷ lệ sử dụng địa chỉ Internet thế hệ mới IPv6.
" alt=""/>Không chuyển đổi sang IPv6 sẽ khó phát triển kinh tế số"Chỉ cần thông tin tên tuổi bệnh nhân được gõ trên công cụ tìm kiếm của hệ thống, phần mềm hiển thị đầy đủ lịch sử khám chữa bệnh của bệnh nhân", đại diện bệnh viện cho biết.
Theo đó, bệnh nhân đã đặt lịch đăng ký khám qua tổng đài bệnh viện. Sáng 17/4, như đã hẹn trước bởi nhân viên tổng đài, bà Liên đến cửa tiếp đón số 7, tầng 1 nhà B3 của bệnh viện, để kiểm tra lại thông tin hành chính và được hướng dẫn đến phòng khám. Tuy nhiên, khi rời khỏi cửa tiếp đón, bà bỏ quên điện thoại thông minh tại đây.
Do điện thoại có mật khẩu, nhân viên y tế không mở để gọi xác minh thông tin. Cán bộ công tác xã hội của viện đã hỏi số điện thoại của người bệnh, chủ động gọi theo số này thì điện thoại đổ chuông. Sau khi xác nhận chính xác, tại khoa Ngoại tổng hợp, cán bộ công tác xã hội phối hợp giao lại điện thoại cho bà L.
HIS là phần mềm quản lý bệnh viện, hỗ trợ quản lý toàn bộ thông tin các khâu từ đăng ký, khám bệnh, điều trị, viện phí, kho dược, cấp phát thuốc cho đến khi bệnh nhân xuất viện. Hệ thống này giúp quản lý chặt chẽ chi phí khám chữa bệnh; số hóa hầu hết các hồ sơ bệnh án chuyên khoa và các giấy tờ chuyên môn, hành chính; từ đó hạn chế tối đa sử dụng giấy tờ viết tay, dễ dàng tra cứu thông tin. Đây cũng là hệ thống quan trọng hỗ trợ bệnh viện thực hiện bệnh án điện tử, điểm cốt lõi của chuyển đổi số y tế.
Bệnh viện Đa khoa Vân Đình là một trong 5 cơ sở y tế công lập ở Hà Nội chính thức công bố triển khai bệnh án điện tử thay thế bệnh án giấy. Cả nước hiện có hơn 70 cơ sở khám chữa bệnh (công lập và tư nhân) công bố thực hiện việc này. Tiến độ chuyển đổi từ bệnh án giấy sang bệnh án điện tử tại Việt Nam được đại diện Bộ Y tế đánh giá là rất chậm.
Minh An